Thanh toán quốc tế là gì?

Please follow and like us:

1. Thanh toán quốc tế là việc thực hiện nghĩa vụ chi trả và quyền hưởng lợi về tiền tệ phát sinh trên cơ sở các hoạt động kinh tế và phi kinh tế giữa các tổ chức, cá nhân nước này với các tổ chức, cá nhân nước khác, hay giữa một quốc gia với tổ chức quốc tế, thông qua quan hệ giữa các ngân hàng của các nước liên quan.
2. Hãy phân tích những khác biệt giữa thanh toán quốc tế và thanh toán nội địa.
– Hoạt động thanh toán quốc tế chịu sự điều chỉnh của luật pháp và các tập quán quốc tế. Thanh toán nội địa chịu sự điều chỉnh của luật quốc gia nước sở tại.
– Hoạt động thanh toán quốc tế được thực hiện phần lớn thông qua hệ thống ngân hàng. Thanh toán nội địa có thể thực hiện với nhiều hình thức, có thể thông qua ngân hàng hoặc trực tiếp giữa các đối tác trong quá trình mua bán, giao dịch sản phẩm.
– Trong thanh toán quốc tế, tiền mặt hầu như không được sử dụng trực tiếp mà dùng các phương tiện thanh toán. Thanh toán nội địa có thể sử dụng tiền mặt trong một số trường hợp, hoặc hạn mức cho phép thanh toán tiền mặt theo quy định của pháp luật hiện này tại nước sở tại. – — – Trong thanh toán quốc tế, ít nhất một trong hai bên có liên quan đến ngoại tệ. Thanh toán nội địa đa phần sử dụng đồng nội tệ hoặc theo quy định về quản lý ngoại hối của quốc gia nước sở tại.
– Ngôn ngữ sử dụng trong thanh toán quốc tế chủ yếu bằng tiếng Anh. Ngôn ngữ sử dụng trong thanh toán nội địa là ngôn ngữ do quốc gia nước sở tại quy định thường là tiếng bản địa hoặc một ngoại ngữ do chính phủ quốc gia đó quy định như một ngôn ngữ được sử dụng trên lãnh thổ quốc gia.
– Giải quyết tranh chấp chủ yếu bằng luật quốc tế. Thanh toán nội địa sử dụng chủ yêu luật quốc gia.
3. Phân tích cơ sở hình thành hoạt động thanh toán quốc tế.
-Cơ sở để hình thành hoạt động thanh toán quốc tế của ngân hàng thương mại là hoạt động ngoại thương. Nếu thanh toán quốc tế được thực hiện tốt thì giá trị của hàng nhập khẩu mới được thực hiện tốt, góp phần không nhỏ vào việc thúc đẩy ngoại thương phát triển. thanh toán quốc tế là yếu tố quan trọng để đánh giá hiệu quả hoạt động kinh tế đối ngoại của một quốc gia.
-Một quốc gia muốn phát triển không thể chỉ dựa vào sản xuất trong nước mà còn phải quan hệ với các nước khác. Do sự khác nhau về điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên, nếu chỉ dựa vào nền sản xuất trong nước sẽ không thể cung cấp đầy đủ những hàng hóa dịch vụ đáp ứng nhu cầu cho nền kinh tế mà còn phải nhập những mặt hàng cần thiết như nguyên liệu, vật tư, máy móc, thiết bị, hàng tiêu dùng trong nước không sản xuất ra được hoặc sản xuất ra với giá thành cao hơn. Trên cơ sở khai thác những tiềm năng và những lợi thế kinh tế vốn có của nền kinh tế, ngoài việc phục vụ nhu cầu trong nước còn có thể tạo ra những thặng dư có thể xuất khẩu sang những nước khác, góp phần tăng ngoại tệ cho đất nước để nhập khẩu các thứ còn thiếu và để trả nợ. Như vậy do nhu cầu phát triển kinh tế mà phát sinh sự trao đổi giao dịch hàng hóa giữa các nước với nhau để khai thác tiềm năng và thế mạnh của một nước với một nước khác một cách có lợi nhất. Hoạt động xuất nhập khẩu là yêu cầu khách quan của nền kinh tế. Trong hoạt động xuất nhập khẩu, thanh toán quốc tế là khâu cuối cùng và nó có điểm khác biệt so với thanh toán trong
nước.
– Khi buôn bán quốc tế ở thời kỳ sơ khai, các thương nhân trực tiếp chở hàng hóa đến bán ở các nước khác và thu tiền. Những khó khăn do sự khác biệt về tiền tệ được giải quyết bởi sự tham gia của ngân hàng với vai trò là trung gian đổi tiền. Nhưng khi mà quan hệ buôn bán quốc tế ngày càng mở rộng về phạm vi và quy mô, kéo theo sự gia tăng của khối lượng tiền tệ được thanh toán. Các thương nhân vì lý do an toàn nên không thu tiền trực tiếp mà thông qua ngân hàng với vai trò trung gian thanh toán.Tuy nhiên, khi hoạt động thanh toán quốc tế ngày càng phát triển thì việc thanh toán ngày càng phức tạp do ảnh hưởng của yếu tố kinh tế, chính trị xã hội và theo đó rủi ro ngày càng tăng. Các bên tham gia xuất nhập khẩu ngày càng bộc lộ những mâu thuẫn sâu sắc, vì thế mà các phương thức, phương tiện thanh toán quốc tế lần lượt ra đời và ngày càng hoàn thiện nhằm giải quyết các mâu thuẫn trên, tạo điều kiện cho thương mại phát triển.
4.Phân tích các điều kiện trong thanh toán quốc tế.
* Điều kiện về tiền tệ.
Điều kiện về tiền tệ chỉ là ra việc sử dụng đồng tiền nước nào để tính toán và thanh toán hợp đồng, hiệp định kí kết giữa các nước, đồng thời quy định cách xử lý khi giá trị đồng tiền biến đổi. Đồng tiền tính toán và đồng tiền thanh toán có thể là đồng bản tệ của một số bên tham gia vào hoạt động TTQT và cũng có thể là đồng tiền của một nước thứ ba được các bên lựa chọn làm phương tiện thanh toán.
Việc lựa chọn loại đồng tiền trong thanh toán quốc tế là vô cùng quan trọng, chọn đồng tiền nào để thanh toán nó phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: Vị trí của đồng tiền đó trên thị trường quốc tế, so sánh lực lượng của hai bên mua và bán, tập quán sử dụng đồng tiền thanh toán trên thế giới…Tuy nhiên khi tiến hành thanh toán thì các bên tham gia đều tìm mọi cách để đạt được các điều kiện thanh toán có lợi cho mình.Do vậy các bên có thể thỏa thuận sử dụng một đồng tiền mạnh và ổn định nào đó làm đồng tiền thanh toán giữa các bên. Tuy nhiên việc lựa chọn này tùy thuộc rất nhiều vào vị thế đàm phán, tập quán thương mại và quan điểm của mỗi bên về xu hướng rủi ro.
*Điều kiện đảm bảo hối đoái
– Điều kiện đảm bảo hối đoái đưa ra các điều kiện bảo lưu nhằm bảo đảm giá trị thực tế của các khoản thu nhập, khi giá trị tiền tệ lên xuống thất thường. Trong hợp đồng mua bán phải ghi rõ đồng tiền tính toán và điều kiện đảm bảo:
– Điều kiện đảm bảo vàng: dùng đồng tiền tính toán giá cả cà giá trị hợp đồng, đồng thời quy định giá vàng tại thời điểm đó là cơ sở bảo đảm. Khi thanh toán, nếu giá vàng thay đổi so với lúc kí hợp đồng đến một mức độ nhất định hoặc có thay đổi thì sẽ điều chỉnh giá cả hàng hóa và giá trị hợp đồng.
– Điều kiện đảm bảo ngoại hối: lựa chọn một đồng tiền tương đối ổn định, xác định mối quan hệ
tỉ giá của đồng tiền thanh toán để đảm bảo giá trị hợp đồng.
– Quy định một đồng tiền dùng trong thanh toán và tính toán xác định tỉ giá giữa đồng tiền đó với một đồng tiền mạnh. Khi thanh toán nếu tỉ giá thay đổi thì điều chỉnh lại giá cả hợp đồng.
– Bảo đảm theo số tiền tệ: các bên thống nhất sự lựa chọn khối lượng ngoại tệ đưa vào sổ cũng như phải thống nhất cách tính giá hối đoái của số so với đồng tiền được đảm bảo lúc kí kết và thanh toán. Mục đích chính là san bằng các biến động khác nhau của các đồng tiền tạo ra sự ổn định tương đối.
*Điều kiện địa điểm thanh toán
Điều kiện về địa điểm thanh toán thường do hai bên thỏa thuận. Thường thì nếu thanh toán bằng đồng tiền của nước nào thì địa điểm thanh toán ở luôn nước đó. Việc xác định địa điểm thanh toán thường do sự so sánh lực lượng giữa hai bên quyến định. Địa điểm thanh toán có thể là ở nước nhập khẩu, xuất khẩu hoặc một nước thứ ba nào đó mà hai bên lựa chọn.
Trong giai đoạn hiện nay, do sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kĩ thuật và hệ thống ngân hàng trên toàn thế giới. Việc chuyển tiền từ người thanh toán cho đến người nhận trên quy mô toàn thế giới trở nên rất đơn giản, nhanh chóng, an toàn và chi phí hợp lý. Vì vậy điều kiện về địa điểm thanh toán cũng không bị ràng buộc như trước và thanh toán tại khu vực của mình đã trở thành điều kiện thông thường của giao dịch ngoại thương.
*Điều kiện thời gian thanh toán
Điều kiện về thời gian thanh toán mang tính chất bắt buộc đối với các giao dịch quốc tế.
Điều kiện này quy định cụ thể thời điểm thỏa thuận mà bên phải trả tiền cần thực hiện thanh
toán cho bên nhận tiền thường là:
– Trả trước: trong điều kiện này, người mua sẽ cấp một phần hoặc toàn bộ vốn cho người bán.
Đây là cách được áp dụng khi hai bên có quan hệ rất tín nhiệm, hoặc quan hệ chi nhánh, đại lý với nhau. Việc trả tiền trước với mục đích người bán thiếu vốn phải vay của người mua, thì người mua đã cấp tín dụng thương mại cho người bán.
– Trả ngay: đây là hình thức mua bán mà ngay khi nhận được hàng hóa, người mua tiến hành thanh toán cho người bán. Khái niệm trả ngay bao gồm nhiều cách trả tiền khi bỏ giá trị hàng hóa đã thanh toán trong khoảng thời gian từ lúc chuẩn bị xong hàng để bốc lên tàu cho đến tay
người mua.
– Trả tiền sau: là sau khi giao hàng một thời gian nhất định, người bán mới thu được tiền của người mua. Trả tiền sau thực chất là người bán cấp tín dụng cho người mua. Thời gian trả tiền dài hay ngắn tùy thuộc vào sự thoả thuận của hai bên và thường do luật quản chế ngoại hối của các nước quy định. Đây là trường hợp hay gặp nhất trong kinh doanh, vừa giúp người mua nhận được hàng trước khi có tiền, giúp người bán tiêu thụ hàng hóa nhanh hơn, tạo lập quan hệ thân tín trong kinh doanh.
*Điều kiện phương thức và phương tiện thanh toán
Đây là một trong những điều kiện quan trọng nhất trong các điều kiện thanh toán quốc tế.Phương thức thanh toán là cách thức mà người mua dùng để trả tiền cho người bán và người bán dùng để thu tiềnvề. Có nhiều phương thức thanh toán khác nhau để lựa chọn cho việc thu tiền hoặc trả tiền. Tuy nhiên, người bán và người mua lựa chọn phương thức nào cũng xuất phát từ yêu cầu của hai bên: Người bán muốn thu tiền nhanh đầy đủ và người mua muốn nhập hàng đúng số lượng, chất lượng và kịp thời hạn.

Please follow and like us:

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.