Ảnh hưởng của Nho Giáo tới Việt Nam

Please follow and like us:

Mục Lục

Phần 1: Giới thiệu chung. 2

Phần 2: Nội dung cơ bản của Nho Giáo Trung Hoa Cổ Đại 4

Tu thân. 4

Hành đạo. 11

Phần 3 : Ảnh hưởng của Nho Giáo tới Việt Nam.. 13

Quá trình du nhập và phát triển của Nho giáo việt nam : 13

Ảnh hưởng tích cực của Nho giáo ở Việt Nam. 14

Ảnh hưởng tiêu cực của Nho giáo ở Việt Nam. 16

Kết luận. 18

Tài liệu tham khảo. 19

 

Phần 1: Giới thiệu chung

Trung Hoa cổ đại là một trong những trung tâm văn hóa, khoa học và triết học cổ xưa, phong phú và rực rỡ nhất không chỉ của nền văn minh phương Đông mà của cả nhân loại.

Trung Hoa cổ đại có lịch sử lâu đời từ cuối thế kỷ III TCN kéo dài đến thế kỷ II TCN với sự kiện Tần Thủy Hoàng thống nhất Trung Hoa bằng uy quyền và bạo lực, mở đầu thời kỳ Trung Hoa phong kiến. Trong khoảng 2000 năm lịch sử ấy, lịch sử Trung Hoa được chia thành 2 thời kỳ lớn:

Thời Tam đại (Hạ, Thương, Chu)

Thời Xuân Thu-Chiến Quốc

Trong thời kỳ này xuất hiện nhiều trường phái triết học khác nhau và Nho giáo có một vị thế hết sức to lớn trong đời sống xã hội Trung Quốc trong nhiều thế kỷ. Nho giáo như là một thành tố văn hóa góp phần làm phong phú văn hóa Trung Quốc vốn được hình thành trên nền tảng của văn hóa Hán cùng với sự giao lưu tiếp xúc văn hóa với các tộc người khác. Tuy nhiên, trong suốt chiều dài lịch sử mấy ngàn năm của Trung Quốc, Nho giáo được nhìn nhận hết sức khác nhau: có những giai đoạn lịch sử, người ta đề cao Nho giáo, coi đó như là chuẩn mực để xây dựng đời sống xã hội, lại có thời gian, người ta phê phán, bài bác, thậm chí phủ nhận Nho giáo. Đương nhiên, khi đã coi Nho giáo như là một học thuyết thì việc xem xét, đánh giá trong các giai đoạn lịch sử cũng là việc làm bình thường.

Nho giáo có một lịch sử hình thành và phát triển lâu dài hằng mấy nghìn năm và phát triển vừa bề sâu, vừa bề rộng. Bề rộng là từ một vùng ra cả Trung Quốc, quê hương của nó, rồi ảnh hưởng đến Triều Tiên, Việt Nam, Nhật Bản. Bề sâu là các giai đoạn lịch sử của nó, giai đoạn sau thường phong phú hơn giai đoạn trước hoặc vì phải thích nghi với điều kiện xã hội mới, hoặc vì phải đấu tranh và làm giàu với các luồng tư tưởng tín ngưỡng khác sinh ra từ nội địa hoặc nhập vào từ nước ngoài. Có nhà khoa học chú trọng đến “tính không hoàn chỉnh” của nó; nó không phải nhất thành bất biến; nó chuyển biến luôn và hãy xem đó là một sức sống của Nho giáo. Khả năng chuyển biến mà vẫn giữ bản sắc là một điều, một đặc tính đặc biệt của Nho giáo. Cho nên, có Nho giáo trước Khổng Tử Hạ Thương, đầu Chư, có Nho giáo của Khổng tử và các môn đệ trực tiếp; có Nho giáo thời Hán mà á thánh nổi tiếng là Đổng Trọng Thư; sang Đường, Nho giáo và Phật giáo đấu tranh mà chung sống (chưa kể rằng từ Xuân Thu-Chiến Quốc đến đó có bao nhiêu nhà tranh tiếng với nhau, ảnh hưởng lẫn nhau). Rồi thời Tống , có Nho giáo của nó với những bậc á thánh lừng danh như Nhị Trình, Chu Tử v.v. Sĩ phu Việt Nam đi học thì tự gọi là đến cửa Khổng sân Trình. Một thuở sĩ phu Việt Nam xem Khổng Mạnh, Hán Nho, Tống Nho “ba vì” của Nho giáo, sau đó không có đỉnh nào cao hơn. Nho giáo đã trở thành tư tưởng, văn hoá, in đậm dấu ấn của mình lên lịch sử của một nửa châu Á trong suốt hai nghìn năm trăm năm qua, và cho đến tận hôm nay, dù tự giác hay không tự giác, dù đậm hay nhạt, có khoảng một tỷ rưỡi con người đang chịu ảnh hưởng học thuyết Nho gia, học thuyết này đã trở thành cốt lõi của cái mà ta gọi là văn hóa phương Đông. Dĩ nhiên, nó có những hạn chế nhất định, trước hết là những hạn chế của thời đại, nhưng những tích cực, đóng góp của nó cho phép biện chứng duy vật, tuy mộc mạc đơn sơ.

Phần 2: Nội dung cơ bản của Nho Giáo Trung Hoa Cổ Đại

Cốt lõi của Nho giáo là Nho gia. Đó là một học thuyết chính trị nhằm tổ chức xã hội. Để tổ chức xã hội có hiệu quả, điều quan trọng nhất là phải đào tạo cho được người cai trị kiểu mẫu – người lý tưởng này gọi là quân tử (quân = kẻ làm vua, quân tử = chỉ tầng lớp trên trong xã hội, phân biệt với “tiểu nhân”, những người thấp kém về điạ vị xã hội; sau “quân tử” còn chỉ cả phẩm chất đạo đức: những người cao thượng, phẩm chất tốt đẹp, phân biệt với “tiểu nhân” là những người thiếu đạo đức hoặc đạo đức chưa hoàn thiện. Điều này có thể được lí giải bởi đối tượng mà Nho giáo hướng đến trước tiên là những người cầm quyền). Để trở thành người quân tử, con người ta trước hết phải “tự đào tạo”, phải “tu thân”. Sau khi tu thân xong, người quân tử phải có bổn phận phải “hành đạo” (Đạo không đơn giản chỉ là đạo lí. Nho gia hình dung cả vũ trụ được cấu thành từ các nhân tố đạo đức, và Đạo ở đây bao chứa cả nguyên lí vận hành chung của vũ trụ, vấn đề là nguyên lí đó là những nguyên lí đạo đức do Nho gia đề xướng (hoặc như họ tự nhận là phát hiện ra) và cần phải tuân theo. Trời giáng mệnh làm vua cho kẻ nào có Đạo, tức là nắm được đạo trời, biết sợ mệnh trời. Đạo vận hành trong vũ trụ khi giáng vào con người sẽ được gọi là Mệnh). Cần phải hiểu cơ sơ triết lí của Nho giáo mới nắm được logic phát triển và tồn tại của nó.

Tu thân

Khổng Tử đặt ra một loạt tam cương, ngũ thường, tam tòng, tứ đức… để làm chuẩn mực cho mọi sinh hoạt chính trị và an sinh xã hội.

Tam cương và ngũ thường là lẽ đạo đức mà nam giới phải theo. Tam tòng và Tứ đức là lẽ đạo đức mà nữ giới phải theo. Khổng Tử cho rằng người trong xã hội giữ được tam cương, ngũ thường, tam tòng, tứ đức thì xã hội được an bình.

Tam cương: tam là ba, cương là giềng mối. Tam cương là ba mối quan hệ: quân thần (vua tôi), phụ tử (cha con), phu phụ (vợ chồng).

Trong xã hội phong kiến, những mối quan hệ này được các vua chúa lập ra trên những nguyên tắc“chết người”

  • Quân thần: (“Quân xử thần tử, thần bất tử bất trung” nghĩa là: dù vua có bảo cấp dưới chết đi nữa thì cấp dưới cũng phải tuân lệnh, nếu cấp dưới không tuân lệnh thì cấp dưới không trung với vua) Trong quan hệ vua tôi, vua thưởng phạt luôn luôn công minh, tôi trung thành một dạ.
  • Phụ tử: (“phụ sử tử vong, tử bất vong bất hiếu nghĩa là: cha khiến con chết, con không chết thì con không có hiếu)”)
  • Phu phụ: (“phu xướng phụ tùy” nghĩa là: chồng nói ra, vợ phải theo)

Ngũ thường: ngũ là năm, thường là hằng có. Ngũ thường là năm điều phải hằng có trong khi ở đời, gồm: nhân, nghĩa, lễ, trí, tín.

Nhân: Là tính thiện sẵn có của con người, là tình yêu thương đồng loại, khoan dung độ lượng. Theo Luận ngữ, Nhân là sự phô bày rất thực tiễn và ngoại tại các phẩm tính của con người. Khổng Tử nói: “Khi ở nhà giữ gìn dung mạo khiêm cung; khi ra làm việc thi hành một cách kính cẩn; khi giao thiệp với người, giữ lòng trung thành. Dẫu đi tới các đoàn rợ phương đông và phương bắc, cũng chẳng bỏ ba đức hạnh cung, kính và trung ấy, như vậy là người có đức nhân”. “Đi ra ngoài làm việc phải giống như gặp khách quý. Sai khiến dân phải giống như đang làm lễ tế lớn vậy. Việc mình không muốn thì đừng ép người khác muốn. Ở trong nước, ở trong nhà đừng để có ai oán hận mình”.

Nhân là đức tính quan trọng nhất trong ngũ thường. Khổng Tử nói “Muốn tu thân phải tuân theo đạo lý. Muốn tuân theo đạo lý, phải thực hiện nhân. Nhân tức là tính người, là kính yêu người trong thân tộc, yêu nhân dân của mình. Đó là điều lớn nhất trong chữ nhân”. Người có tính cương trực, chí quyết đoán, lòng chất phác, nói cẩn thận, có đủ bốn phẩm đức này đã gần với đạo nhân. Người thích điều nhân sẽ coi điều nhân trên hết, ghét điều bất nhân, trong thực tế sẽ luôn làm điều nhân, không bao giờ chịu ảnh hưởng xấu của điều bất nhân. Người đã mong muốn làm điều nhân thì không thể làm điều gì xấu. Chỉ người có đức nhân mới có thể đánh giá người khác một cách khách quan, không bị những cảm xúc tiêu cực bóp méo nhận thức về con người và xã hội. Khổng Tử nói: “Chỉ có người có đức nhân mới có thể hay yêu người và hay ghét người”. Người có nhân nhất định dũng cảm nhưng người dũng cảm chưa chắc đã có nhân . Người có đức nhân không bao giờ ưu lo . Để đánh giá người có đức nhân hay không hãy nhìn vào sai lầm của người đó. Khổng Tử nói: “Sai lầm người ta mắc phải có quan hệ đến loại người. Loại người như thế nào thì sẽ phạm sai lầm như thế ấy. Xem sai lầm của một người đã phạm, có thể biết người đó có đức nhân hay không. “. Người quân tử chẳng may lỡ làm việc bất nhân là có nhưng chưa có kẻ tiểu nhân nào mà làm được một việc có nhân . Nguyên Hiến hỏi “Nếu một người tự kìm nén được bốn tật xấu như hiếu thắng, phô trương, oán hận, tham lam thì người đó có thể xem là người có nhân không ?”. Khổng Tử nói “Như thế có thể cho là làm được việc khó. Nhưng có thể xem là người có nhân hay không thì ta không biết.” . Người lãnh đạo phải nhân đức thì dân chúng mới hăng hái theo điều nhân. Khổng Tử nói “Người quân tử ở ngôi trên nếu biết đối đãi nồng hậu với anh em họ tộc của mình, ắt dân chúng trăm họ sẽ hăng hái theo điều nhân. Người quân tử ở ngôi trên nếu không bỏ bạn bè thân thiết cũ, thì dân chúng cũng không đối xử với nhau bạc bẽo vô tình”. Tuy nhiên người đời lại thích tiền tài, địa vị, nhan sắc hơn là làm điều nhân đức. Khổng Tử từng cảm thán “Ta chưa từng nhìn thấy ai thích đức nhân như thích sắc đẹp.”. Đối với người bất nhân cũng không nên ghét bỏ quá mức vì nếu bị ghét bỏ quá mức họ dễ trở thành kẻ làm loạn.

Nhân là phẩm chất đạo đức đầu tiên mà người đạo đức phải có. Khổng Tử nói: “Người quân tử xa rời đạo nhân làm sao có thể xứng danh quân tử được. Người quân tử không bao giờ xa rời đạo nhân dù chỉ trong khoảng thời gian một bữa ăn. Dù cho ở hoàn cảnh bức bách khốn cùng, phải phiêu bạt nơi đất khách quê người cũng không bao giờ xa rời đạo nhân”. Để trở thành con người nhân đức thì phải không ngừng tu dưỡng bản thân. Theo Khổng Tử, muốn làm người nhân đức không khó. Ông nói “Không lẽ điều nhân xa chúng ta như vậy ư ? Ta nghĩ muốn đạt được điều nhân thì điều nhân sẽ đến”. Tuy nhiên theo ông: “Ta chưa thấy người nào đạt đến điều nhân mà không tốn sức tốn công rèn dũa. Người không mất sức mà đạt đến nhân, đại khái cũng có thể có, nhưng ta chưa gặp bao giờ”. Tăng Tử, học trò của Khổng Tử, lại cho rằng “Kẻ sĩ không thể không có hoài bão lớn lao, ý chí kiên cường, tinh thần kiên nghị. Bởi vì trách nhiệm gánh vác của kẻ sĩ rất nặng mà đường lại còn xa. Gánh điều nhân làm trọng trách của mình chẳng lẽ không phải là quá nặng nề ư ? Chỉ đến khi chết rồi mới ngừng nghỉ, chẳng lẽ không phải đường dài lắm đó ư ?”. Người có đức nhân là người trước hết biết chịu đựng gian khổ, làm những việc khó khăn, rồi sau mới thu hoạch. Người có đức nhân là người biết mình đã lập nên sự nghiệp cũng muốn người khác lập nên sự nghiệp; mình thành đạt cũng muốn người khác thành đạt; phàm làm việc gì cũng lấy mình ra đối chiếu, thử áp dụng lên mình để hiểu biết ý muốn của người. Việc gì mình không thích, có hại cho mình thì không làm cho người. Người có đức nhân không nói chuyện một cách tùy tiện, phải nhẫn nại. Người có đức nhân, luôn mong muốn làm điều nhân đức sẽ không lấy của cải vật chất làm thước đo mình và mọi người, không thất chí trong hoàn cảnh khó khăn. Khổng Tử nói: “Kẻ sĩ lập chí vì đạo nhân mà cảm thấy nhục nhã khi ăn đói, mặc rách, người như vậy không đáng để cùng bàn luận đạo nhân”. Tuy nhiên nhân đức không có nghĩa là hành động nông nổi, thiếu suy nghĩ, vì người mà hại mình. Khi được Tể Ngã hỏi người có đức nhân có nên nhảy xuống giếng cứu người hay không, Khổng Tử trả lời “Người quân tử là người tìm cách cứu người, chứ không thể nhảy xuống giếng mà hại thân. Người quân tử có thể bị lừa bởi những điều có lý nhưng không thể bị hại bởi những điều xằng bậy vô lý”. Đối với bậc thức giả, nếu quân vương sáng suốt, nhân nghĩa thì phò tá; quân vương vô đạo thì ở ẩn, như vậy là người nhân đức. Tử Cống hỏi Khổng Tử khi Bá Di, Thúc Tề ở ẩn họ có oán hận gì không ? Ông trả lời “Theo đuổi điều nhân mà được điều nhân, còn phải oán hận gì nữa ?”.

Nghĩa: Là cư xử cho hợp lẽ phải, đường hoàng, hào hiệp. Hành vi của con người phải chính đáng, chú trọng quy tắc, tiêu chuẩn, trọng tâm là nghĩa vụ và trách nhiệm. Trước khi làm gì phải xem xét hành vi đó có hướng đến điều “thiện” hay không, có thể hiện tiêu chuẩn đạo nghĩa, ý thức trách nhiệm với cộng đồng hay không. Nghĩa là cơ sở để con người hành động. Người có đạo đức chỉ làm những việc hợp nghĩa. Chuyện gì không hợp nghĩa thì không làm. Khổng Tử nói “Người quân tử đối với mọi việc trên thế gian, không nhất định phải làm việc này hoặc không làm việc kia, mà xem việc đó có hợp nghĩa hay không, nếu hợp nghĩa thì làm.” Ông cũng cho rằng “… Nhìn thấy việc chính nghĩa không dám làm, là không có dũng khí.”. Tinh thần trọng nghĩa khinh tài của Nho giáo được thể hiện trong câu nói của Khổng Tử “Người quân tử chỉ biết điều nghĩa, kẻ tiểu nhân chỉ biết điều lợi”. Một số người cho rằng quan niệm coi trọng đạo nghĩa hơn lợi ích vật chất là điểm lạc hậu của Nho giáo kiềm hãm sự phát triển kinh tế. Đó là sự ngộ nhận vì Nho giáo không phản đối làm giàu mà chỉ phản đối làm giàu bằng mọi giá, thấy lợi quên nghĩa cũng như nền văn minh phương Tây với nền sản xuất tư bản chủ nghĩa mang tính vị lợi cao độ cũng không hề chấp nhận việc làm giàu gây hại cho người khác hoặc cho cộng đồng; gây ô nhiễm môi trường; vi phạm đạo đức, nhân quyền và các quy tắc xã hội. Khổng Tử nói “Nước nhà thái bình mà mình lại nghèo hèn, như vậy là đáng sỉ nhục. Nước nhà loạn lạc mà mình giàu có như vậy cũng là đáng sỉ nhục”.

Lễ: Sự tôn trọng, hòa nhã trong khi cư xử với mọi người, mở rộng ra là việc tuân thủ các quy tắc, nguyên tắc đạo đức xã hội và pháp luật. Một cách căn bản, chính nghi lễ và nghi thức làm cho cuộc sống quân bình. Lễ làm bền vững nền văn hiến của một nước, lễ mà bại hoại thì văn hiến cũng tiêu tan, xã hội hỗn loạn, xung đột nảy sinh. Khổng Tử nói: “Cung kính mà thiếu lễ thì làm thân mình lao nhọc. Cẩn thận mà thiếu lễ thì trở thành nhút nhát. Dũng cảm mà thiếu lễ sẽ trở thành loạn nghịch. Ngay thẳng mà thiếu lễ sẽ trở nên thô lỗ”. Trong ứng xử, lễ thể hiện qua điệu bộ, cử chỉ, phong thái. Trước khi chết Tăng Tử dặn dò học trò “Người quân tử giữ đạo lý nên đặc biệt coi trọng 3 điều: Cử chỉ, dung mạo điềm đạm, dáng điệu khoan thai, đàng hoàng sẽ giữ cho mình tránh thô bạo và phóng túng. Giữ sắc mặt đoan trang sẽ giúp mình giữ được chân thật và thành thực với mọi người. Nói năng chú ý giữ được điệu bộ, giọng điệu sẽ giúp mình tránh được thô bỉ và sai sót.”

Trí: Óc khôn ngoan, sáng suốt. Cảm giác đúng và sai. Biết tiên liệu, tính toán để hành động hợp đạo lý. Người có đức trí không bao giờ nhầm lẫn. Khổng Tử nói “Người có trí lực bậc trung trở lên có thể dạy cho họ những đạo lý cao sâu. Người có trí lực từ bậc trung trở xuống không thể dạy cho họ những đạo lý cao sâu”. Người có trí không phung phí tiền bạc vào những chuyện mê tín dị đoan, xa hoa, vô ích. Khổng Tử nói “Tang Văn Trọng dựng riêng một ngôi nhà để nuôi một con rùa lớn, quanh cột nhà chạm núi non, xà nhà có khắc hình rong biển. Con người như vậy sao gọi là người trí ?”. Bậc trí giả tùy thời mà sống, thời trị thì ra giúp nước, thời loạn thì lánh xa chính trị để gìn giữ thiên lương và bảo toàn sinh mạng. Khổng Tử nói: “Ninh Vũ Tử, khi nước nhà yên ổn thái bình được tiếng là người có đức trí, khi nước nhà loạn lạc bị mang tiếng là ngu đần. Trí như Ninh Vũ Tử thì người khác có thể theo kịp, chứ còn giả ngu đần như Ninh Vũ Tử thì thiên hạ không có cách nào đuổi kịp”. Người lãnh đạo có trí là người dùng hết tâm trí, sức lực làm mọi việc cho dân.

Tín: Giữ đúng lời, đáng tin cậy. Chữ tín vốn nằm trong 4 điều trên, sau này được tách ra để thành Ngũ thường. Tín là thước đo, là sự phản ánh 4 giá trị trên. Khổng Tử nói: “Một người không có chữ tín, không biết có thể làm gì được. Cũng giống như xe lớn không có chốt, xe nhỏ cũng không có chốt, thì làm sao có thể đi được ?”. Để giữ được chữ tín thì phải cẩn thận trong lời nói, không hứa hẹn những điều vượt quá khả năng của mình vì như Khổng Tử nói “Người xưa không để khinh suất khi nói ra, bởi sợ xấu hổ vì không thực hiện được lời mình đã nói”.

Tam tòng: tam là ba; tòng là theo. Tam tòng là ba điều người phụ nữ phải theo, gồm: “tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử”

  • Tại gia tòng phụ: người phụ nữ khi còn ở nhà phải theo cha,
  • Xuất giá tòng phu: lúc lấy chồng phải theo chồng,
  • Phu tử tòng tử: nếu chồng qua đời phải theo con”

Tứ đức: tứ là bốn; đức là tính tốt. Tứ đức là bốn tính nết tốt người phụ nữ phải có, là: công – dung – ngôn – hạnh.

  • Công: khéo léo trong việc làm.
  • Dung: hòa nhã trong sắc diện.
  • Ngôn: mềm mại trong lời nói.
  • Hạnh: nhu mì trong tính nết.

Người quân tử phải đạt ba điều trong quá trình tu thân:

Đạt đạo: Đạo có nghĩa là “con đường”, hay “phương cách” ứng xử mà người quân tử phải thực hiện trong cuộc sống. “Đạt đạo trong thiên hạ có năm điều: đạo vua tôi, đạo cha con, đạo vợ chồng, đạo anh em, đạo bạn bè” (sách Trung Dung), tương đương với “quân thần, phụ tử, phu phụ, huynh đệ, bằng hữu”. Đó chính là Ngũ thường, hay Ngũ luân. Trong xã hội cách cư xử tốt nhất là “trung dung”. Tuy nhiên, đến Hán nho ngũ luân được tập chung lại chỉ còn ba mối quan hệ quan trọng nhất được gọi là Tam thường hay còn gọi là Tam tòng.

Đạt đức: Quân tử phải đạt được ba đức: “nhân – trí – dũng”. Khổng Tử nói: “Đức của người quân tử có ba mà ta chưa làm được. Người nhân không lo buồn, người trí không nghi ngại, người dũng không sợ hãi” (sách Luận ngữ). Về sau, Mạnh Tử thay “dũng” bằng “lễ, nghĩa” nên ba đức trở thành bốn đức: “nhân, nghĩa, lễ, trí”. Hán nho thêm một đức là “tín” nên có tất cả năm đức là: “nhân, nghĩa, lễ, trí, tín”. Năm đức này còn gọi là ngũ thường.

Biết thi, thư, lễ, nhạc: Ngoài các tiêu chuẩn về “đạo” và “đức”, người quân tử còn phải biết “thi, thư, lễ, nhạc”. Tức là người quân tử còn phải có một vốn văn hóa toàn diện.

Hành đạo

Sau khi tu thân, người quân tử phải hành đạo, tức là phải làm quan, làm chính trị. Nội dung của công việc này được công thức hóa thành “tề gia, trị quốc, thiên hạ bình “. Tức là phải hoàn thành những việc nhỏ – gia đình, cho đến lớn – trị quốc, và đạt đến mức cuối cùng là bình thiên hạ (thống nhất thiên hạ). Kim chỉ nam cho mọi hành động của người quân tử trong việc cai trị là hai phương châm:

Nhân trị: Nhân là tình người, nhân trị là cai trị bằng tình người, là yêu người và coi người như bản thân mình. Khi Trọng Cung hỏi thế nào là nhân thì Khổng Tử nói: “Kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân – Điều gì mình không muốn thì đừng làm cho người khác” (sách Luận ngữ). Nhân được coi là điều cao nhất của luân lý, đạo đức, Khổng Tử nói: “Người không có nhân thì lễ mà làm gì? Người không có nhân thì nhạc mà làm gì?” (sách Luận ngữ).

Chính danh: Chính danh là mỗi sự vật phải được gọi đúng tên của nó, mỗi người phải làm đúng chức phận của mình. “Danh không chính thì lời không thuận, lời không thuận tất việc không thành” (sách Luận ngữ). Khổng tử nói với vua Tề Cảnh Công: “Quân quân, thần thần, phụ phụ, tử tử – Vua ra vua, tôi ra tôi, cha ra cha, con ra con” (sách Luận ngữ).

Đó chính là những điều quan trọng nhất trong các kinh sách của Nho giáo, chúng được tóm gọi lại trong chín chữ: tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ. Và đến lượt mình, chín chữ đó chỉ nhằm phục vụ mục đích cai trị mà thôi.

Quân tử ban đầu có nghĩa là người cai trị, người có đạo đức và biết thi, thư, lễ, nhạc. Tuy nhiên, sau này từ đó còn có thể chỉ những người có đạo đức mà không cần phải có quyền. Ngược lại, những người có quyền mà không có đạo đức thì được gọi là tiểu nhân (như dân thường).

Phần 3 : Ảnh hưởng của Nho Giáo tới Việt Nam

Quá trình du nhập và phát triển của Nho giáo việt nam :

Phật giáo, Nho giáo và Đạo giáo được du nhập vào Việt nam từ lâu và đã có vai trò đáng kể trong đời sống tinh thần của nhân dân. Những trào lưu ấy được cải biến cho phù hợp với truyền thống văn hóa của nhân dân và nhu cầu của đất nước và đã trở thành nhân tố của nền văn hóa và hệ tư tưởng thống trị ở Việt Nam. Nghiên cứu về Nho giáo ở Việt Nam không thể tách rời nó với truyền thống Việt Nam.

           Nho giáo ở dạng Hán nho được các quan lại Trung Hoa như Tích Quang, Nhâm Diên, Lý Thiện, Sĩ Nhiếp.. tích cực truyền bá từ công nguyên. Nhưng Phật giáo đã có ưu thế hơn Nho giáo rất nhiều. Trong khi Nho giáo chỉ dừng lại ở tầng lớp quan lại xung quanh chính quyền ngoại bang thì Phật giáo đã thâm nhập vào các tầng lớp nhân dân ở mọi miền đất nước. Có thể nói rằng suốt cả giai đoạn chống Bắc thuộc, Nho giáo chưa có chỗ đứng trong xã hội Việt Nam.

Đến thời Lý, với sự kiện Lý Thái Tổ cho xây cất Văn Miếu thờ Chu Công, Khổng Tử (1076), mới có thể xem là Nho giáo được tiếp nhận chính thức. Chính vì vậy mà Nho giáo ở Việt Nam chủ yếu là Tống Nho (Nhà Lý cùng thời với nhà Tống ở Trung Hoa) chứ không phải Hán Nho, Đường Nho…

Vào năm 1232 vua Trần đã đặt ra học vị đầu tiên cho thi cử Nho giáo ở nước ta, đó là học vị Thái học sinh (về sau đổi thành tiến sĩ) và có Chu Văn An đỗ thái học sinh nhưng không ra làm quan mà mở trường dạy học, đào tạo được khá đông học trò. Các nhà Nho thời kỳ này ra sức bài xích Phật giáo để khẳng định chỗ đứng của mình. Tuy nhiên, đến cuối đời Trần, Nho giáo vẫn chưa được chấp nhận rộng rãi. (Không cứ gì ở nơi nông thôn, ngay ở chốn triều đình, các tập tục, lề lối của khuôn mẫu Nho giáo cũng rất xa lạ với ta. Một lần có người đề nghị cải tổ triều đình theo khuôn mẫu Phương Bắc đã bị vua Trần cự tuyệt và nói rằng ta có cách của ta).

Trong cuộc kháng chiến chống quân Minh, các nhà Nho, đứng đầu là Nguyễn Trãi, tập hợp dưới ngọn cờ của Lê Lợi đã có những đóng góp to lớn. Với sự lớn mạnh của Nho giáo Việt nam, với nhu cầu cải cách đất nước đã dẫn đến việc triều Lê chủ động đưa Nho giáo thành Quốc giáo; Nho giáo giữ địa vị độc tôn. Từ đó, Nho giáo thịnh suy theo bước thăng trầm của các triều đại phong kiến. Nhà Nguyễn lên cầm quyền, địa vị của Nho giáo một lần nữa khẳng định để rồi tàn lụi dần khi phải đối mặt với sự tấn công của văn hóa phương Tây.

Ảnh hưởng tích cực của Nho giáo ở Việt Nam.

 Ảnh hưởng tích cực của Nho giáo thể hiện ở những điểm sau:

– Nho giáo góp phần xây dựng các triều đại phong kiến vững mạnh và bảo vệ chủ quyền dân tộc.

Công lao của Nho giáo là góp phần đào tạo tầng lớp nho sĩ Việt nam, trong đó có nhiều nhân tài kiệt xuất như Lê Quý Đôn, Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Ngô Thì Nhậm…

Những thể chế chính trị, lễ nghi đạo đức Nho giáo đã du nhập vào Việt nam. Chịu ảnh hưởng của Nho giáo, dòng văn minh dân gian làng xã được phổ biến và phát triển, thể hiện ở các cuộc đua, vui chơi, hoa văn trang trí đền chùa… Các tư tưởng đấng trượng phu, quân tử, quan hệ tam cương, tam tòng tứ đức, thủ tục ma chay, cưới xin, các quy định về tôn ti trật tự,… ảnh hưởng rất đậm nét ở Việt nam, nhất là bắt đầu từ đời nhà Lê, khi Nho giáo bắt đầu thống trị và trở thành hệ tư tưởng chính thống của chế độ phong kiến.

 – Nho giáo hướng con người vào con đường ham tu dưỡng đạo đức theo Nhân – Nghĩa – Lễ – Trí – Tín, ham học tập để phò Vua giúp nước. Nhiều ý nghĩa giá trị của những chuẩn mực đạo đức Nho giáo đã được quần chúng nhân dân sử dụng trong nền đạo đức của mình. Ví dụ như:

+ “Tiên học lễ, hậu học văn” là khẩu hiệu trong các trường học Việt nam từ xưa đến nay. Bác Hồ cũng từng sử dụng những thuật ngữ đạo đức của Nho giáo và đã đưa vào đó những nội dung mới như: “Cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư, trung, hiếu, …”

+ Tư tưởng “Trăm năm trồng người” và “Hữu giáo vô loại” (nghĩa là dạy học cho mọi người không phân biệt đẳng cấp) của Khổng Tử đã được Đảng Cộng sản Việt nam vận dụng trong công cuộc xây dựng đất nước.

– ảnh hưởng chính của Nho giáo là thiết lập được kỷ cương và trật tự xã hội. Nho giáo với các tư tưởng chính trị – đạo đức như “Chính danh”, “Nhân trị”, “Nhân chính” luôn luôn là bài học quý giá và được vận dụng trong suốt lịch sử Việt nam.

Nguyễn Trãi trong “Bình Ngô đại cáo” đã viết:

“Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân”,

 và “Lấy đại nghĩa để thắng hung tàn

Đem chí nhân để thay cường bạo”.

 Đảng ta thực hiện đường lối lấy dân làm gốc với khẩu hiệu: “Dân giàu, nước mạnh” và “Chúng ta không sợ thiếu, chỉ sợ không công bằng”.

Bác Hồ khi kế thừa các tư tưởng triết học Nho giáo đã tinh lọc, loại bỏ những tư tưởng không phù hợp với thời đại và hoàn cảnh của Việt nam lúc bấy giờ. Chẳng hạn Khổng Tử cho rằng: “Thứ dân bất nghị” tức là dân thường không có quyền bàn việc nước, còn Bác Hồ đề cao dân chủ. Khổng Tử coi thường vị trí, vai trò của người phụ nữ trong xã hội thì Bác Hồ chủ trương nam nữ bình quyền.

Ảnh hưởng tiêu cực của Nho giáo ở Việt Nam.

 Ảnh hưởng tiêu cực của Nho giáo thể hiện ở những điểm sau:

Nho giáo suy đến cùng là bảo thủ về mặt xã hội và duy tâm về mặt triết học. Nó thường được sử dụng để bảo vệ, củng cố các xã hội phong kiến trong lịch sử. Nho giáo góp phần không nhỏ trong việc duy trì quá lâu chế độ phong kiến ở á Đông nói chung và ở Việt nam nói riêng.

Nho giáo cũng là một trong những nguyên nhân kìm hãm sản xuất phát triển ở Việt nam. Dưới ảnh hưởng của Nho giáo, truyền thống tập thể đã biến thành chủ nghĩa gia trưởng, chuyên quyền, độc đoán, bất bình đẳng. Nho giáo không thúc đẩy sự phát triển của các ngành khoa học tự nhiên bởi phương pháp giáo dục thiên lệch của Nho giáo chỉ quan tâm tới đạo đức, học và dạy làm người mà không đề cập đến kiến thức khoa học kỹ thuật. Những mặt tiêu cực đó phản ánh tính chất bảo thủ lạc hậu của Nho giáo ở nước ta.

Hiện nay, trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt nam thì tư tưởng chính trị – đạo đức của Nho giáo có ảnh hưởng trên các mặt sau:

– Trên lĩnh vực xã hội: Nó có tác dụng ổn định kinh tế – chính trị để phát triển kinh tế. Đó là điều kiện để xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội ở Việt nam.

– Trên lĩnh vực chính trị – đạo đức: Ngày nay áp dụng những tư tưởng của Nho giáo, kế thừa nhữnh mặt tích cực của nó để đạt mục tiêu ổn định kinh tế, xã hội; đặc biệt chú trọng Nho giáo cổ đại (Khổng Tử) chứ không phải Nho giáo sau này (chỉ nhấn mạnh quan hệ một chiều). Đảm bảo nhìn nhận vấn đề một cách hợp lý, duy trì vấn đề phê phán đúng lúc, đặt vấn đề dân chủ trong việc áp dụng những tinh hoa tích cực. Trong kinh doanh phải biết trọng chữ tín, lấy chữ tín làm đầu, trong đó có một vấn đề rất quan trọng là phải quan tâm đúng mức đến chất lượng sản phẩm.

Kết luận

 Qua việc nghiên cứu đề tài này chúng ta phần nào hiểu thêm được nguồn gốc ra đời của Nho giáo, hệ tư tưởng của nó và ảnh hưởng của nó đến xã hội và người dân ta, đồng thời hiểu thêm về lịch sử nước ta. Đặc trưng đề tài này cho chúng ta thấy rõ vấn đề có ý nghĩa quan trọng, đó là vấn đề xây dựng hình thành nhân cách và tư duy con người Việc Nam trong tương lai với sự hỗ trợ của những giá trị đạo đức nhân văn của Nho giáo.

 Dù còn những khuyến điểm, hạn chế song chúng ta không thể phủ nhận những giá trị đạo đức to lớn mà Nho giáo đã mang lại. Đặc trưng hướng nội của Nho giáo giúp con người tự suy ngẫm về bản thân, cân nhắc các hành động của mình để không gây ra đau khổ bất hạnh cho người khác. Nó giúp con người sống thân ái, yêu thương nhau, xã hội yên bình. Như ta đã biết Việt Nam hiện nay đang trong giai đoạn chuyển sang kinh tế thị trường với định hướng xã hội chủ nghĩa thì những tư tưởng bảo thủ, hủ nho sẽ là những cản trở không nhỏ cho quá trình chuyển đổi ấy. Mặt khác, Việt Nam hiện nay đang cất giữ thể ổn định của xã hội, đó là điều mà Nho giáo đã theo đuổi hàng ngàn năm nay, mục tiêu “ ổn định”. Nho giáo đã suy tư rất nhiều về phương cách thực hiện mục tiêu ấy. Ta cần tham khảo các vấn đề đó từ nhiều nguồn thông tin, trong đó có Nho giáo,nghiên cứu để vận dụng vào Việt Nam cho phù hợp với điều kiện có của nước ta trong điều kiện hiện nay. Vì vậy, nghiên cứu Nho giáo trong điều kiện hiện nay còn một nhiệm vụ cấp bách và có ý nghĩa thực tiễn vô cùng to lớn

Tài liệu tham khảo

[1]Tứ thư, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2003.

[2] Tứ Thư Ngũ Kinh với vấn đề giáo dục gia đình, Nhân Tử Nguyễn Văn Thọ

http://nhantu.net/TonGiao/4thu5kinh.htm

[3] Bài viết: Vấn đề phương pháp chính trị trong học thuyết Nho gia.

http://ajc.edu.vn/Nghien-cuu-khoa-hoc/Van-de-phuong-phap-chinh-tri-trong-hoc-thuyet-Nho-gia/12222.ajc

[4] trang web  https://vi.wikipedia.org/wiki/Nho_gi%C3%A1o

 

 

Please follow and like us:

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.